VN là “vùng trũng” của thế giới về số lượng bằng sáng chế

09 Th11, 2016

Thống kê cho thấy số lượng bằng sáng chế được cấp văn bằng bảo hộ tại Việt Nam gần 15.600, trong đó chỉ có 694 văn bằng bảo hộ của người nộp đơn trong nước (tỉ lệ 4,4%) – một con số quá ít so với dân số 90 triệu người hiện nay.

Nhiều tác giả của các bằng sáng chế thường “quên” việc nộp lệ phí duy trì hiệu lực, dẫn đến các bằng sáng chế trở nên vô giá trị. Đây là một thực tế mà TS Lê Ngọc Lâm, Cục phó Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) Bộ Khoa học và công nghệ (KH&CN) phải thốt lên rằng “thật đáng buồn”. Điều đó cho thấy, Việt Nam vẫn chưa coi trọng đến vấn đề SHTT.

Để giúp các nhà sáng chế, doanh nghiệp, người dân hiểu rõ tầm quan trọng của quyền SHTT, vào sáng hôm nay (29/6), Sở KH&CN TP.HCM phối hợp với Cục SHTT đã tổ chức Hội thảo “Pháp luật sáng chế và thông tin sở hữu công nghiệp”.

Tại buổi hội thảo, TS Lâm thẳng thắn chỉ rõ vấn đề SHTT trở nên cực kỳ quan trọng đối với nền kinh tế, đặc biệt là khi Việt Nam đang hội nhập sâu vào các hiệp định FTA (thương mại tự do) và gia nhập TPP.

“Chỉ có SHTT mới giúp cho doanh nghiệp (DN) phát triển bền vững, là công cụ để bảo vệ trước áp lực của xu thế cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập quốc tế” – TS Lâm nhấn mạnh.

k5

TS Lê Ngọc Lâm phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Hà Thế An.

Theo TS Lâm, giữa ý tưởng và giải pháp kỹ thuật luôn có khoảng cách nhất định. Ý tưởng hoặc ý đồ chỉ nêu lên vấn đề mà không có cách giải quyết thì cũng không được công nhận là sáng chế. Những ý tưởng thực hiện trò chơi, phương pháp kinh doanh cũng không được bảo hộ tại Việt Nam. Song, ở Mỹ và các quốc gia Châu Âu phương pháp kinh doanh được bảo hộ dưới dạng bí quyết kinh doanh.

Các phương pháp phòng ngừa và chẩn đoán để chữa bệnh cho người và động vật cũng không được bảo hộ sáng chế vì mục đích nhân đạo. TS Lâm lấy ví dụ “Một bác sỹ A sáng chế ra phương pháp chữa một bệnh nan y nào đó. Nếu bác sỹ được cấp bằng sáng chế, khi bệnh nhân cần điều trị với phương pháp này sẽ phải xin phép bác sỹ A, nếu không bệnh nhân sẽ chết. Điều này trái với đạo đức con người nên bác sỹ A không được đăng ký bảo hộ sáng chế đó”.

Cục phó Cục SHTT cho biết, bằng sáng chế được cấp khi công trình nghiên cứu đảm bảo được 3 yếu tố: tính mới, tính sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp. Đối với giải pháp hữu ích chỉ cần đảm bảo 2 yếu tố là tính mới và khả năng áp dụng công nghiệp. Công trình đăng ký bằng sáng chế nếu đủ 2 yếu tố của giải pháp hữu ích có thể chuyển thành bằng giải pháp hữu ích.

Những người đăng ký cấp bằng sáng chế và giải pháp hữu ích sẽ phải mô tả, bộc lộ đầy đủ và rõ ràng bản chất của sáng chế. Mô tả phải rõ ràng, cụ thể để người khác có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng có thể thực hiện được. Bằng sáng chế được cấp ở quốc gia nào sẽ có giá trị ở quốc gia đó. Nhà sáng chế muốn bảo hộ ở quốc gia khác thì đăng ký ở quốc gia đó.

k6

Toàn cảnh hội thảo. Ảnh: Hà Thế An.

TS Lâm cho rằng, việc cấp bằng sáng chế sẽ có giá trị kiểm soát thị trường cho đối tượng người sử dụng sản phẩm sáng chế. Sau khi sáng chế được công bố, người tạo ra sản phẩm có thể thực hiện hoạt động trao đổi, mua bán, hợp tác ý tưởng với nhiều đối tượng khác. Những người khác có thể phát triển ý tưởng đó theo một hướng khác để tạo ra sản phẩm hữu ích.

“Suy cho cùng, việc đăng ký bảo hộ và công bố những sáng chế đó để giúp xã hội hưởng lợi từ những ý tưởng, sản phẩm mới, mọi người trải nghiệm những tính năng ưu việt của sản phẩm” – TS Lâm nói.

Kết thúc hội thảo, TS Lâm khuyến nghị, nhà sáng chế khi đi đăng ký bằng sáng chế phải đánh giá được sản phẩm của mình có khả năng thương mại hóa và chiếm lĩnh thị trường không. Tránh trường hợp việc “nuôi” bằng sáng chế bằng các khoản phí duy trì bảo hộ trở thành một gánh nặng.

Hà Thế An