Công trình tiêu biểu

Khôi phục rừng Cần Giờ

25 Th7, 2016

Nhắc đến kỳ tích khôi phục rừng ngập mặn Cần Giờ không thể không nhắc đến vai trò của KH&CN mà sự ghi nhận quan trọng nhất là Giải thưởng Hồ Chí Minh về KH&CN năm 2005.

Khi khoa học vào cuộc cùng ý chí quyết tâm của lãnh đạo

Rừng ngập mặn Cần Giờ có một vị trí không chỉ địa chính trị (đường giao thông huyết mạch, là cửa ngõ yết hầu vào Sài Gòn) mà còn là vùng đất sinh thái liên quan đến nhiều ngành nghề như nông – lâm – ngư nghiệp của TP.HCM. Chiến tranh đi qua, Cần Giờ thành “sa mạc mặn” với dấu tích bom đạn, xói mòn. Môi trường sinh thái của rừng Cần Giờ đã hoàn toàn thay đổi. Đất rừng do không còn hệ thống cây rừng điều hòa dòng chảy nên độ mặn của nước biển có năm lên đến 18 – 22%, rất bất lợi cho cây trồng, vật nuôi nông – lâm – ngư nghiệp. Độ mặn, phèn của đất rừng ngập mặn tăng cao đã làm thay đổi hoàn toàn tính chất hóa lý của đất.

trong rung can gio ( anh tu lieu)

Trồng rừng Cần Giờ

Nhận thức rõ tầm quan trọng của Cần Giờ , sau ngày miền Nam được giải phóng, năm 1978, Thành ủy và UBND TP.HCM đã thành lập Lâm trường Duyên Hải (đóng tại Cần Giờ – thuộc Ty lâm nghiệp) với nhiệm vụ khôi phục lại hệ sinh thái ngập mặn Cần Giờ. Thời điểm đó, công trình khoa học “Khôi phục và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ” đã được thành phố phê duyệt và tiến hành thực hiện từ tháng 5 năm 1978. Công trình do các tác giả: TS. Lê Văn Khôi, KS. Nguyễn Ðình Cường, KS. Nguyễn Minh Hải, KS. Lê Thị Liên, KS. Nguyễn Ngọc Nam, KS. Nguyễn Ðình Quý, CN. Lê Văn Sinh, CN. Ðoàn Văn Thu, Ths. Lê Ðức Tuấn thực hiện. Trải qua 22 năm nghiên cứu ứng dụng và phục hồi (đến tháng 1 năm 2000) nhóm tác giả của công trình đã có thể tự hào về sự hồi sinh kỳ diệu của vùng đất này. đã mang lại kết quả thiết thực.

Công trình đặt ra mục tiêu phải hồi phục rừng ngập mặn với tốc độ nhanh trong những năm đầu tiên; xác định được các giải pháp kỹ thuật phù hợp (giống tốt, vùng trồng thích hợp, tổ chức thi công nhanh, chăm sóc và bảo vệ rừng trồng tốt); có các biện pháp kỹ thuật tác động để rừng tăng tuổi nhanh, sớm cung cấp một phần nhu cầu chất đốt và vật liệu xây dựng cho dân cư trong vùng, đồng thời tạo ra một môi trường thuận lợi cho các loài thủy sản nước lợ sinh sôi phát triển, giải quyết một phần thực phẩm cho nhân dân; sau khi phủ xanh các tiểu khu rừng, các năm tiếp theo tiến hành công tác điều chế, chăm sóc nuôi dưỡng rừng bằng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo hướng đa dạng sinh học, bảo tồn thiên nhiên, phục vụ cho nghỉ dưỡng, tham quan, học tập, nghiên cứu khoa học cho sinh viên.

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Một trong những kết quả nghiên cứu nổi bật của nhóm tác giả là chọn được loài cây trồng thích hợp, với phương châm “đất nào cây đó”

Một trong những kết quả nghiên cứu nổi bật của nhóm tác giả là chọn được loài cây trồng thích hợp, với phương châm “đất nào cây đó”. Các nhà khoa học sau khi đi điều tra, khảo sát thực địa, nghiên cứu các khu rừng ngập mặn ở Cà Mau, Bến Tre… đồng thời nghiên cứu tài liệu liên quan tình hình sinh trưởng, phát triển của rừng Sác Cần Giờ trước đây, đã chọn cây đước là cây được trồng chủ yếu. Cây đước có thể sinh trưởng và phát triển tốt trên các vùng đất phù sa, sình lầy, bùn chặt, chịu ảnh hưởng của thủy triều với độ mặn từ 10 đến 25%. Nguồn giống trái đước ở Cà Mau có thể cung cấp đủ số lượng để trồng lại rừng đước ở Cần Giờ. Sau cây đước, các nhà khoa học đã cho trồng các loài cây: vẹt, dà vôi, gõ biển, xu ổi, cóc… trên những vùng đất ẩm, ổn định, ít ngập triều, nước lợ…

Ông Lê Văn Khôi, nhà khoa học đứng đầu nhóm thực hiện công trình khôi phục và phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ, nhớ lại : “Công trình đã được tiến hành suốt 22 năm liên tục trong điều kiện hết sức khó khăn, phức tạp những năm sau chiến tranh, trên nền cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng cơ sở xã hội hầu như không có gì. Các nhà sinh thái học người Mỹ đã đến khu rừng ngập mặn Cần Giờ sau khi bị phá hủy hoàn toàn bởi chất độc hóa học, khoảng giữa thập niên 70 thế kỷ 20, đã phát biểu ước tính: Cần khoảng 100 năm để phục hồi lại hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ. Phát biểu này cho thấy việc khôi phục và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng là một công việc không dễ dàng và vượt quá khả năng của nhân dân thành phố lúc bấy giờ”.

Giá trị lớn về kinh tế và môi trường

Từ lúc bắt đầu trồng lại rừng vào năm 1978 đến năm 2000, diện tích trồng rừng và tái sinh tự nhiên thành rừng khoảng 30.000 ha, gần bằng với diện tích rừng tự nhiên đã có trước chiến tranh. Tán cây rừng dày kín là một “nhà máy khổng lồ” hấp thụ CO2 và cung cấp O2 quan trọng cho thành phố. Căn cứ theo số liệu khoa học của một đề tài nghiên cứu cho thấy, trên 1 ha rừng Cần Giờ mỗi năm hấp thu đến 20.328 tấn CO2 và đồng thời sinh ra 13.552 tấn oxy cung cấp cho TP.HCM. Rừng Cần Giờ sau khi được phục hồi còn là môi trường lý tưởng lọc nước thải từ TP.HCM, các khu công nghiệp Bình Dương, Biên Hòa đưa xuống trước khi ra biển và là môi trường thuận lợi để đào tạo, nghiên cứu khoa học cho các nhà khoa học, sinh viên trong và ngoài nước.

trong rung 2

Sau 22 năm khôi phục rừng ngập mặn, các quần xã thực vật từ chỗ biến mất nay đã hình thành theo diễn thế tự nhiên của rừng, đúng với quy luật sinh thái với 42 loài thuộc 35 chi, 24 họ

Ngoài ra, rừng ngập mặn cũng đã góp phần quan trọng trong bảo vệ môi trường sinh thái trong khu vực. Sau 22 năm khôi phục rừng ngập mặn, các quần xã thực vật từ chỗ biến mất nay đã hình thành theo diễn thế tự nhiên của rừng, đúng với quy luật sinh thái với 42 loài thuộc 35 chi, 24 họ. Như vậy, so với rừng ngập mặn ở các nước Đông Nam Á thì hầu hết các loài thực vật chủ yếu đều có ở rừng ngập mặn Cần Giờ.

Với diện tích 3700 ha, hiện rừng ngập mặn Cần Giờ được xem là “Lá phổi xanh” của TP.HCM. Năm 2000, rừng ngập mặn Cần Giờ được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới. Nhiều nhà khoa học thế giới đã đến đây và cho rằng: rừng ngập mặn Cần Giờ ngày nay không chỉ là tài sản riêng của Việt Nam mà đã trở thành tài sản chung của nhân loại, trong mạng lưới các khu dự trữ sinh quyển thế giới…

HINH 04

Rừng ngập mặn Cần Giờ ngày nay

Mai Thy- Nhật Quang

– Công trình khôi phục và phát triển rừng ngập mặn Cần Giờ đã nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ năm 2005. Hội đồng Giải thưởng quốc gia đánh giá: Kết quả của công trình ngoài giá trị về mặt khoa học, kinh tế đã tạo việc làm, nâng cao đời sống nhân dân địa phương; tạo khu du lịch sinh thái và học tập nghiên cứu thì nhiều hấp dẫn; góp phần cải tạo môi trường thành phố Hồ Chí Minh và vùng lân cận.

– Tiến sĩ khoa học Lê Văn Khôi, sinh năm 1938, quê Tiền Giang, tốt nghiệp Trường ĐH nông lâm Hà Nội năm 1963. Năm 1966 ông được cử đi Liên Xô (cũ) làm nghiên cứu sinh về sinh lý thực vật rừng. Ngày giải phóng Sài Gòn, ông về làm việc tại Phân viện khoa học VN tại TPHCM, đến năm 1977 về Sở lâm nghiệp. Năm 1978, ông về làm giám đốc Lâm trường Duyên Hải và mở màn chiến dịch trồng rừng ngập mặn Cần Giờ. Từ năm 1981 – 2000, ông là phó giám đốc Sở NN&PTNT TP.HCM. Ông từng là chủ tịch Hội khoa học kỹ thuật lâm nghiệp TPHCM, phó chủ tịch Hiệp hội gỗ và lâm sản VN, ủy viên Ban chấp hành Liên hiệp các hội khoa học & kỹ thuật TP.HCM nhiệm kỳ I, II, IV,V…